Archive for Kinh tế

Chuyện HSBC – Thông tin tài chính

Từ 07/01, cộng đồng mạng và nhà đầu tư xôn xao về báo cáo của HSBC tên là “Chiến lược đầu tư cổ phiếu của châu Á”. Bản giới thiệu có độ dài 110 trang phân tích và khuyến nghị với các nhà đầu tư (khách hàng của HSBC) về các vấn đề trên các thị trường chứng khoán châu Á (trong đó có Việt Nam).

Khác với bản báo cáo của JP Morgan khá chi tiết và cập nhật đầy đủ về tình hình TTCK Việt Nam, bản báo cáo của HSBC (110 trang) chỉ có tổng cộng 2+3 trang đề cập đến Việt Nam. Ngoài việc nói các chỉ số kỹ thuật của các sàn đang ở mức chấp nhận được còn lại các phần chủ yếu là phân tích chung chung về Việt Nam. Về đợt IPO Vietcombank, theo HSBC giá trúng 107 là quá đắt cho một cổ phiếu không hấp dẫn về chỉ số P/E và EPS.

Cả bản báo cáo lác đác một vài thống kê (bằng hình ảnh, bảng), nó không đủ trình bày một góc nhìn tổng quan cũng như chi tiết về thị trường Việt Nam. Cuối cùng HSBC khuyến nghị thế này “We continue to want some exposure to this market but, given the risks, recommend cutting exposure from 2% of an Asia Pacific portfolio to 0.5%.”

Thế mà có nhiều tờ báo của Việt Nam giật tít “đã đến thời điểm mua vào” . Không hiểu có phải trùng hợp không mà ngay hôm sau có báo cáo (08/01) TTCK Việt Nam đảo chiều tăng và lập tức sụt giảm vào ngày 09/01 khi trên nhiều diễn đàn mạng cũng như trên sàn nhà đầu tư phản ánh lại nội dung của bản báo cáo HSBC.

Việc dự đoán của HSBC đến cuối năm 2008 VN-Index sẽ đạt 1100 điểm tức là tăng 18,2% so với đầu năm 2007. Nôm na nhà đầu tư bỏ ra 100 triệu vào đầu năm 2008 để thu về 118,2 triệu vào cuối năm 2008 (chưa kể lạm phát, mất giá nội tệ và các yếu tố khác) không biết nên gọi là có lãi hay lỗ…Chính vì thể có thể hiểu HSBC hợp lý khi đề nghị giảm mức đầu tư xuống.

Vấn đề thông tin tài chính của Việt Nam lâu nay vẫn là vấn đề bàn đi bàn lại, bàn tới bàn lui. Nhưng có một điều khó hiểu là khi có bất cứ báo cáo nào của tổ chức nước ngoài là nhà đầu tư cũng như các cơ quan truyền thông đều xôn xao. Chưa cần biết nội dung của nó như nào, chỉ cần có các động thái như “nên” hoặc “không nên” là ngay lập tức các bài viết tràn ngập “lời khuyên”. Hay chăng các cơ quan truyền thông, cũng như nhà đầu tư thật sự nghiêm túc và phản ánh khách quan hơn là sử dụng sự chủ quan hoặc các biện pháp “xào nấu” để hút người đọc.

Vấn đề truyền thông tài chính này, chắc chắn sẽ còn phải bàn nhiều trong tương lai.

Đêm, kinh tế ngầm

Lâu lắm rồi tôi mới đi trong đêm. Gọi là đêm nhưng lúc đó khoảng gần 12h giờ, tôi phóng xe trong không gian tĩnh lặng của đêm đông Hà Nội, cái rét không làm tôi quá bận tâm.

Đường phố Hà Nội về đêm khá yên bình, không có dòng người hối hả, vất vả và chen chúc như ban ngày – thời gian mà khoảng 80% lao động tạo ra GDP.

Khoảng thời gian buổi tuối là thời gian con người tìm kiếm sự nghỉ ngơi nhưng đó cũng là thời gian để nhiều người làm việc. Tuy rằng nhiều công việc không được tính vào GDP hay được gọi là kinh tế ngầm nhưng xem ra cũng nhiều ấn tượng.

Chỉ một đoạn phố có rất nhiều nghề, nhiều người. Nam có, nữ có, già có trẻ có. Cô thì bán đồ ăn tối, ông lão bơm xe, chị bán quần áo cũ và thậm chí cả những cô cave đứng bên vỉa hè. Tất cả hoạt động của họ đều không được tính vào giá trị của GDP (Tại sao thì bác nào giở sách ra xem lại dùm em nhé).

Những tại quán nước chè, biết bao nhiêu câu chuyện về cuộc sống, tình yêu – xã hội đều được bắt nguồn. Không đơn giản mà khi Pepsi vào Việt Nam đã đánh giá đối thủ nặng ký của họ nhất là “Nước chè”. Và sự thật đúng như vậy, dù Pepsi đã có mặt gần 2 chục năm, Coca khoảng 4-5 chục năm (từ thời Mỹ) nhưng chưa bao giờ hai hãng này xóa đi văn hóa “uống chè” của người Việt Nam. Một hoạt động không được tính vào nền kinh tế.

Những ông bơm xe lam lũ, mệt mỏi và phảng phất mùi rượu hàng đêm vẫn bám trụ góc vỉa hè. Nhiều người vì mưu sinh, nhiều người làm buổi tối vì buổi tối dễ “thịt” được khách hơn ban ngày. Nhưng dù như nào, có những con người như thế, đôi lúc tôi gặp sự cố trên đường về giữa đêm khuya vẫn còn tia hi vọng.

Những sạp sách, manh chiếu bán đồ second-hand không quá xa lạ với tôi thời làm sinh viên (Mua ít, ngắm nhiều, lục lọi thì thôi rồi). Sách toàn sách lậu, sách cũ giá rẻ như bèo, chất lượng giấy nhìn đáng (hổ thẹn) không mua, nhưng túi tiền ít, sách hay vẫn mang về nhà vì không có tiền. Quần áo, giầy dép, thi thoảng vớ được đôi ba cái linh kiện máy tính, những đồ chơi công nghệ mà người bán không biết giá trị của nó…Một góc phố huyên náo, im lìm dần cũng vì họ.

Cánh xe ôm đêm gương mặt dữ tợn, phì phèo thuốc ngả lưng trên xe ngủ theo dáng “Tôn ngộ không”, ôi đôi khi ta mất thêm vài nghìn cho họ “chém”, nhưng họ còn gia đình, con cái và cuộc sống ngày sớm mai để đối mặt

Cuối cùng, những cô cave (không phải con – vì dẫu gì họ cũng là con người), họ làm cái nghề mạt hạng của xã hội (mang cái “sướng” cho người khác mà là mạt hạng? – No comment). Họ đứng khuất vào bóng đêm, ăn tục chửi bậy, tranh giành khách với nhau thậm chí choảng nhau với khách (Bảo kê). Nhưng họ, cũng vì cuộc sống, vì những mảnh đời không ai giống ai bị đẩy ra ngoài lề đường. Điều khiến tôi bất ngờ nhất là dù có đi xe hay đứng đất, mỗi cô đều cầm một chiếc mũ bảo hiểm để đỡ bị “phạt”. Ôi, họ cũng là con người!!!

Trên con đường đó, hàng đêm còn biết bao nhiêu người, biết bao nhiêu nghề hàng ngày bám trụ cùng cuộc sống. Vâng, với tôi họ không quan trọng (nhiều khi còn là khó chịu).

Nhưng với họ, dù cho họ không được xã hội đặt cho cái tên, cái nghề hay tính vào một hoạt động nào đó. Họ vẫn là những người lao động và kinh doanh.

Truyền thông thời chứng khoán

Truyền thông bùng nổ

Công ty A tăng vốn, công ty B chuẩn bị IPO, công ty C hợp tác chiến lược với tập đoàn D –tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực… Những thông tin này bạn đọc được hàng ngày trên các tờ báo, các trang tin điện tử thậm chí ở bất kỳ đâu có nói về chứng khoán.

Đúng là chứng khoán đã đi vào đời sống của rất nhiều người Việt Nam, họ có thể hàng ngày, hàng giờ nói chuyện chứng khoán, giá cổ phiếu, từ nói chuyện phiếm đến rỉ tai nhau những thông tin chưa tồn tại trên thị trường. Chưa xét đến độ đúng sai, nhưng đó là quảng cáo truyền miệng, và khi người dân tự có ý thức đi tìm thông tin, ý thức rủ rỉ nhau thì thương hiệu doanh nghiệp cũng tự lên. Khi đọc, xem, nghe trên các phương tiện truyền thông, chúng ta chủ động tiếp nhận thông tin tới não bộ – nơi có các bộ lọc khác giám sát, từ đó thông tin ở mức độ chính xác nhất có thể.

Trao đổi với một số nhà đầu tư trên sàn, tôi nhận được câu trả lời thật thú vị: hỏi “Vì sao em mua cổ phiếu FPT?” – trả lời “Vì em thấy ở đâu cũng có biển hiệu, chắc chắn doanh nghiệp làm ăn tốt lắm”; hỏi “Tại sao em mua cổ phiếu ngân hàng?” – trả lời “Vì dạo này em thấy ở đâu cũng có ngân hàng, em cứ mua theo bạn bè khuyên thôi” . Rõ ràng không phải chuyện vui, thương hiệu và hình ảnh doanh nghiệp đang đóng góp giá trị cho doanh nghiệp bằng việc làm tăng sự nhận biết, tăng giá cổ phiếu dù qua việc định giá tài sản vô hình theo chuẩn mực quốc tế, hay theo cảm nhận hình ảnh đơn sơ của nhà đầu tư đã bộc lộ ở trên.

Truyền thông của doanh nghiệp phần nào đã tác động tích cực đến thị trường, thương hiệu của mình. Đáng tiếc, sau khi có những cảm nhận đơn sơ đó, những nhà đầu tư cá thể (90% nhà đầu tư trên thị trường) lại gặp phải nhiều rào cản trên con đường tìm kiếm thông. Quá ít và một chiều, mô tả mà thiếu giải thích, nhiều nguồn và thường xuyên “đá” nhau. Đó là những đặc điểm dễ nhận dạng của thông tin mà chúng ta đang hàng ngày tiêu hóa. Một nhà đầu tư phát biểu: “Nếu chỉ đọc những tin về công bố kết quả kinh doanh, tôi nghĩ có thể tưởng tượng ngay đến một nền kinh tế, nơi mà doanh nghiệp nào cũng có mức lợi nhuận cực kỳ dễ dàng và cao”. Trái ngược với sự náo nhiệt của thị trường chứng khoán, rất nhiều sinh viên học chuyên ngành kinh tế đang băn khoăn khi nghiên cứu doanh nghiệp. Các em có trao đổi: “ Chúng em tìm kết quả kinh doanh của doanh nghiệp rất dễ, báo cáo nào cũng có, nhưng khi tìm các tài liệu về kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển thì kết quả rất ít. Sắp đến đợt nộp báo cáo rồi mà chỉ có số liệu thế này em biết phân tích làm sao? Em cũng không hiểu được nếu thiếu những tài liệu kia thì doanh nghiệp làm sao có những kết quả kinh doanh tốt, cổ đông, nhà đầu tư có thể đánh giá được doanh nghiệp và cổ phiếu?”


Hóa ra còn tồn tại những vấn đề

Đến lúc này tôi mới giật mình nhìn lại, vậy bấy lâu nay tôi đang quan sát gì trên thị trường? Nếu không có những ý kiến ở trên chắc hàng ngày tôi vẫn xem báo cáo thị trường, những bản cáo bạch, nhứng đoạn quảng cáo giới thiệu về doanh nghiệp mà quên mất doanh nghiệp đang kinh doanh như thế nào? Đang làm gì với những số liệu ở trên? Chúng ta ngày ngày quay trong biết bao chỉ số, bao nhiêu thước đo từ các bảng giá trong khi doanh nghiệp làm ăn ra sao không ai có điều kiện tiếp xúc thực tế. Những hiện tượng "làm giá", "giao dịch nội gián"…. cũng xuất phát từ việc một số ít người có được thông tin còn phần đông không có điều kiện tiếp xúc với nó. Những điều này này có thể đưa đến những tai nạn trong truyền thông mà thời gian gần đây biết bao nhiêu sự kiện khiến nhà đầu tư bất bình.

Một nhà đầu tư chia sẻ: “Có một công thức trên thị trường : Chỉ cần một thương hiệu vừa đủ đến tai nhà đầu tư + Một bản cáo bạch đẹp + Những hoạt động truyền thông bình thường như ở trên = Giá cổ phiếu sẽ lên, doanh nghiệp sẽ có lợi. Còn chúng tôi, những nhà đầu tư gần như mù tịt với thông tin, tra khắp các loại tin cũng không hiểu họ làm thế nào để đem lại lợi nhuận cho chúng tôi.” Anh ta còn cho biết “Trên danh nghĩa tôi cũng là chủ công ty vì tôi sở hữu cổ phần, nhưng khi đi họp tôi cũng không thấy họ nhắc nhiều về việc phát triển doanh nghiệp mà chỉ tập trung vào những số liệu đã công bố, những kế hoạch tách, gộp, chia chác lợi nhuận, nhiều lần tôi có thắc mắc nhưng họ cho biết những tài liệu đó là bí mật của công ty không thể dễ dàng đem ra ngoài được.”

Thực tế này mang đến một cảm nhận có phần hơi tiêu cực: "các doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm công bố các thông tin theo luật định, các thông tin mà nhà đầu tư thích chứ không có ý định công bố các tin tức liên quan đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp".

Nhưng cần nhớ rằng truyền thông trong kinh doanh không phải là việc đáp ứng đúng mà là đáp ứng đủ thông tin. Doanh nghiệp công bố các báo cáo theo luật định là chính xác, nhưng bên cạnh đó những thông tin về hoạt động của doanh nghiệp, các định hướng phát triển, những thành tích, thất bại lại thu hút được sự tham gia của công chúng. Nhà đầu tư ban đầu sẽ cần những báo cáo tài chính, những bản cáo bạch để quyết định đầu tư, nhưng khi họ đã sở hữu một phần công ty, họ cũng muốn biết tài sản của mình có được dùng vào đúng mục đích, có đúng định hướng của mình khi đầu tư không. Bản thân họ khi đầu tư cũng phải kiểm soát các hoạt động đầu tư của mình, từ việc chọn, mua cổ phiếu đến kết quả đầu tư. Doanh nghiệp sở hữu vốn của nhà đầu tư, trong một quá trình dài nhà đầu tư không thể biết doanh nghiệp có hoạt động tốt, có sử dụng hiệu quả những đồng vốn của họ không. Rõ ràng nhà đầu tư mới là những người băn khoăn và lo lắng nhất về tài sản của mình. Sự hạn chế thông tin, truyền thông chậm chạp có thể dẫn đến những tình trạng tư lợi về thông tin mà chúng ta thường gọi tên là “tin nội bộ”, “giao dịch nội gián”….tình trạng này xảy đến khi có một vài cá nhân có được những thông tin mà phần đông còn lại không có và sử dụng thông tin này để tư lợi cho cá nhân.

Nhìn sang doanh nghiệp nước ngoài, họ có thể là những tập đoàn lâu đời như Ford hay những tập đoàn trẻ tuổi như Google. Nhưng khi nhắc tới họ, chúng ta đều biết tường tận từng giai đoạn phát tri
ển, những thành công, thất bại và bài học kinh nghiệm thậm chí là những chiến lược của họ trong từng giai đoạn. Nhưng với các doanh nghiệp trong nước, những thông tin về lịch sử, những định hướng phát triển, các thành công (nhiều) – thất bại (có lẽ là rất ít) thì chỉ thoáng qua vài dòng giới thiệu sơ sài. Trong khi chi phí quảng bá, tạo dựng thương hiệu đang ngày càng phình to trong bảng kế hoạch chi phí hàng năm. Doanh nghiệp đã "cố" nhưng nhà đầu tư vẫn băn khoăn khi tìm kiếm những thông tin hữu ích cho mình. Không chỉ có những nhà đầu tư trong nước mà cả những nhà đầu tư nước ngoài đang băn khoăn về thông tin doanh nghiệp. Thiết nghĩ nếu doanh nghiệp nghĩ thoáng hơn với công tác truyền thông, thay vì chỉ cung cấp những gì bắt buộc, họ cung cấp cho nhà đầu tư những chiến lược, những kế hoạch hoạt động hết sức công minh. Chính lúc này doanh nghiệp đã tạo cho mình những hoạt động truyền thông hiệu quả.

Bài đã đăng trên Đầu Tư Chứng Khoán

Thương hiệu và nền kinh tế số: Chuyện ở Việt Nam

“Bạn có thể không sở hữu một chiếc xe Ford, nhưng Google thì không thể cưỡng lại khi sử dụng Internet.”

Mạng Internet mới qua tuổi 20 trẻ trung nhưng đã kịp tác động rộng khắp và sâu sắc lên nền kinh tế toàn cầu.  Internet “co hẹp” không-thời gian kinh doanh. Nếu trước đây, khởi nghiệp ở  Mỹ cần vài thập kỷ để nếm những quả ngọt thương trường thì ngày nay, những cái tên Google, Yahoo, Amazon, Ebay, Facebook, My Space, Youtube… đang thống trị nền kinh tế số lại có tuổi đời rất trẻ.  Hãng xe Ford đã tồn tại hơn 100 năm mà hiện nay không thể so sánh được với đối thủ trẻ tuổi Google hay Yahoo về doanh số cũng như tốc độ tăng trưởng, và cả thị giá.  Cộng đồng Internet toàn cầu đều không lạ về thành công của Google hay Yahoo, nhưng không nhiều người hiểu tường tận rằng một “máy tìm kiếm” với giao diện đơn giản như Google lại có doanh thu và lợi nhuận khổng lồ từ truyền thông, quảng bá thương hiệu trên mạng Internet. Đế chế hùng mạnh như Microsoft hay ngay cả Yahoo đều đang e ngại trước những bành trướng  của Google và những hệ thống hỗ trợ hiện diện thương hiệu khác.  Điều ít chú ý từ thành công kỳ diệu mang tên Google là bản chất giản dị: Tạo hiện diện thương hiệu trên môi trường số đang bùng nổ khắp nơi.

Hiện diện-Lan tỏa-Hiệu quả

Khi cần thông tin về đối tác, khách hàng, các nhà cung cấp dịch vụ hay các  thông tin giải trí bạn sẽ làm gì? Trên 80% người dùng internet sẽ sử dụng công cụ tìm kiếm trực tuyến để làm việc, tra cứu thông tin. Hình ảnh doanh nghiệp xuất hiện tại những vị trí quan trọng là con đường tốt nhất để  thu hút quan tâm  của khách hàng. Xu hướng mạng xã hội, blog, các công cụ chia sẻ video, tài liệu đa chiều bùng nổ thì nhu cầu hiện diện thương hiệu ngày càng cần thiết. Nhịp sống hiện đại không cho phép dành nhiều thời gian tìm  hiểu kỹ càng trước lúc sử dụng dịch vụ, sản phẩm. Cường độ hiện diện là yếu tố ảnh hưởng đáng kể tới cảm xúc và quyết định tiêu dùng. Thế nên, không có gì khó hiểu khi việc xuất hiện thường xuyên, đều đặn trên các công cụ tìm kiếm, các website trung gian (hỗ trợ quảng cáo, PR) không thể thiếu đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế số.
kynangkinhdoanh.jpg

(Ảnh chụp màn hình Google khi tìm kiếm với từ khóa “Kỹ năng kinh doanh” ngày 28/09/2007 )

Tốc độ tăng trưởng truyền thông trên Internet đang vượt rất nhanh so với các phương tiện truyền thống… Giới phân tích kinh doanh khẳng định xu hướng này vẫn tiếp tục tăng nhanh do khả năng lưu trữ và liên kết tốt. Tivi, báo chí  hay tổ chức các sự kiện công chúng là hình thức doanh nghiệp truyền tải thông tin một chiều, thời gian ngắn, lan tỏa hẹp. Còn Internet khiến quá trình truyền thông điệp tới cộng đồng người rộng khắp, liên tục, rộng khắp và đan xen.

internet1.jpg

(Thống kê tăng trưởng của các kênh truyền thông tại Mỹ giai đoạn 2005-2009)
Nguồn: Veronis Suhler Stevenson Communications Industry Forecast (2006)

Thế hệ web 1.0 đã tạo ra hiệu ứng thông tin tốt, phục vụ nền tảng cho truyền thông, làm thương hiệu cho doanh nghiệp bằng các hình thức quảng cáo theo logo, mutimedia, bài viết, hay những quảng cáo trên công cụ tìm kiếm, công cụ trung gian (AdBrite, GoogleAd…winking. Nhu cầu lan tỏa thương hiệu trên mạng internet hình thành theo nhiều chiều, với doanh nghiệp-đó có thể là website, blog bán hàng, một hiện diện logo quảng cáo trên hệ thống quảng cáo trung gian hay là một đoạn FEED (RSS) cập nhật thông tin. Với người tiêu dùng, sự lan tỏa là việc họ tìm kiếm thông tin về doanh nghiệp qua website, các diễn đàn, các ý kiến phản hồi của người dùng khác web2.0.jpghay đơn giản chỉ là sở thích cá nhân. Bạn có thể thích một bài báo, một video quảng cáo trên TV, nhưng nếu không có hệ thống kỹ thuật số bạn không thể tiếp cận hay chia sẻ với bạn bè.

Các hệ thống web 2.0 (còn gọi là thế hệ Web++) đã thay đổi theo hướng cá nhân hóa, chia sẻ thông tin quan điểm từ 2 chiều, giữa người sử dụng và cộng đồng internet, tạo ra sự liên kết  cần thiết, và lúc này doanh nghiệp với người tiêu dùng càng thu hẹp khoảng cách. Doanh nghiệp sẽ phải vận dụng nhiều công cụ thông minh để chinh phục khách hàng, từ việc nâng cấp hệ thống website, làm sự kiện thu hút cộng đồng mạng cho đến thuê người viết blog về mình… Doanh thu của Google, Yahoo tăng trưởng khoảng 30-40% mỗi năm mà phần lớn từ việc bán những hiện diện thương hiệu trên công cụ tìm kiếm, các vị trí trên website, trên các công cụ IM (instant messenger) hay ý tưởng độc đáo của  Alex Tew với milliondollarhomepage.com bán từng pixel với giá 1$.
Lượng người sử dụng Internet tăng trưởng  20-30% mỗi năm và vào năm 2010 dự kiến 1,750 tỷ người sẽ sử dụng Internet  trên toàn thế giới . Chắc không doanh nghiệp nào lại nỡ bỏ qua cơ hội thương hiệu trong nền kinh tế số sáng tạo này.

Kinh tế số Việt Nam: Những tuyên ngôn làm thương hiệu

Trái ngược với sự sôi động của nền kinh tế số thế giới, Việt Nam dù đã tiếp cận với Internet được 10 năm, các doanh nghiệp, người tiêu dùng Việt Nam vẫn đang đi tìm những hiện diện thương hiệu số. Có lẽ chưa bao giờ nền kinh tế số Việt Nam gia tăng mạnh mẽ bằng giai đoạn các doanh nghiệp bắt đầu tập quen với hiện diện mạng. Đã có lúc xuất hiện lời tuyên ngôn: “Doanh nghiệp phải có website” để giới thiệu, quảng bá hình ảnh, cung cấp thêm thông tin cho khách hàng.Một doanh nghiệp không có website một cách giản dị, được coi gần như đánh mất cơ hội tiếp cận với thị trường, chậm bắt nhịp công nghệ. Nhưng chừng đó chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống kinh tế số thực thụ. Do hệ thống thương mại, thanh toán điện tử chưa phát triển nên website của doanh nghiệp (đầu tư không đúng hướng, đúng công nghệ) đã bị “xếp xó” và sự hiện diện thương hiệu vẫn theo tình trạng “đầu voi đuôi chuột”.

Khi nhận ra không chỉ một website giải quyết được nhu cầu, các dịch vụ giá trị gia tăng  bắt đầu nở rộ mà đi tiên phong là dịch vụ quảng cáo trên các website tin tức, kinh doanh bằng banner, logo. Lại một cuộc chạy đua mới khi các website đứng trong hàng “top” luôn kín đặc chỗ với nhu cầu không hề ngừng nghỉ. Nhiều công ty quảng cáo, truyền thông ra đời, trở thành trung gian cung cấp dịch vụ quảng cáo của Google, Yahoo hay các hãng quảng cáo trung gian khác để đặt banner, text (tài trợ theo dạng chữ) trên các công cụ này. Ở phía tiêu cực, dịch vụ phát tán thư rác (spam), các dịch vụ ăn gian bảng xếp hạng (Alexa, Google) cũng luôn được mời chào trên mạng chỉ với mục tiêu “phát triển thương hiệu” cho doanh nghiệp.  Cùng với các dịch vụ cung cấp ở trên, doanh nghiệp Việt Nam cũng tiếp cận với báo chí, diễn đàn mở để cung cấp bài viết PR, quảng bá hình ảnh của mình và doanh nghiệp coi quan hệ với báo chí là công cụ làm thương hiệu rất tốt. Nhưng báo chí có mục tiêu chủ đạo là truyền thông và phải cân bằng giữa kinh tế-kinh doanh-xã hội và chính trị, do đó việc nhiều doanh nghiệp cho rằng báo chí là cứu cánh cho thương hiệu đã có thể bỏ qua những phân tích kinh doanh rất thực tế. Dù có ích, PR quảng cáo trên công cụ này vấp phải hạn chế của các mẩu tin, tồn tại theo thời điểm trong khi nhu cầu của họ là sự hiện diện lâu dài và liên tục trên kinh tế số.
Trên thực tế, nếu bạn mua báo đọc buổi sáng (chắc chỉ vào những hôm ngại truy cập internet) thì cũng sẽ được nhìn cảnh người bán báo chủ động vứt bỏ hàng xấp quảng cáo trong ruột tờ báo lớn, như thể xấp quảng cáo đó đang “làm phiền” người mua tờ báo. Điều lạ là chẳng thấy mấy ai ngăn cản việc đó.

Phải chăng đã tới lúc các doanh nghiệp cần các hệ thống phát triển và chăm sóc thương hiệu hiệu quả và chuyên nghiệp hơn?

Bắt nhịp kinh tế số thế giới, cơ hội cho Việt Nam vẫn còn?

Theo số liệu tham khảo từ Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), tính đến tháng 8/2007,   số người sử dụng Internet ở Việt Nam là 17.220.812 người, tương đương khoảng 20,46% dân số.Trong 6 tháng đầu năm 2007, số lượng người dùng Internet ở Việt Nam đã tăng gần 11%, tỷ lệ người dùng trên tổng số dân đã tăng từ 17,94% lên tới 19,87%. Tổng số địa chỉ IP đã cấp tăng gần gấp đôi, từ 1.862.400 lên tới 3.475.200, và tổng số tên miền .vn đang hoạt động tăng 6.956 tên, từ 36.619 lên 43.575.

Khảo sát mới nhất của Asia Digital Marketing Yearbook cho biết chỉ tính đến tháng 5/2007, số người sử dụng Internet tại Việt Nam đã vươn lên vị trí số 17 trong tốp 20 quốc gia có “cư dân mạng” đông nhất trên thế giới. Cũng theo báo cáo này, có đến 72% số người trong độ tuổi 18 – 30 sử dụng Internet thường xuyên để tán gẫu (chat); và 81% số người trong độ tuổi 41-50 thường xuyên đọc tin tức trên Internet.
Việt Nam đang trỗi dậy, trở thành thị trường tiềm năng với bất kỳ  doanh nghiệp tổ chức trong và ngoài nước. Trước nhu cầu vừa xét, chúng ta cùng duyệt qua những site và hệ thống được “định  nghĩa” là tập trung phát triển thương hiệu số cho kinh doanh dưới đây.

Lantabrand.com: sớm tham gia hỗ trợ hiện diện thương hiệu tại Việt Nam từ năm 2004 với cách thức hướng tới sự chuyên nghiệp, Lantabrand đăng tải thông tin, kiến thức PR, nhờ thế thu hút được quan tâm từ phía công chúng, và những người yêu thích-quan tâm công việc này. Bản thân công ty Lantabrand cũng có các dịch vụ  thương hiệu. Cơ cấu như một trang tin điện tử đã và đang hạn chế khả năng giao tiếp của Lantabrand. Sự đơn điệu hiện tại chưa thể tạo ra một cộng đồng thực sự hiệu quả: “Không đạt trọng lượng tới hạn để bùng nổ”. Trong một thời gian dài, Lantabrand cũng không cho thấy sự đột phá nào về công nghệ thương hiệu.

Thuonghieuviet.com.vn: Với mục tiêu xây dựng, phát triển, quảng bá thương hiệu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam, Cục Xúc tiến Thương mại phối hợp cùng Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức “Triển lãm Thương hiệu Việt Nam trên Internet” tại địa chỉ www.thuonghieuviet.com.vn, được triển khai từ tháng 4/2003. Tại đây các thương hiệu của Việt Nam được liệt kê theo ngành và có bảng xếp hạng thương hiệu Việt Nam thông qua bình chọn hàng năm. Website này chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin về doanh nghiệp dưới dạng sơ lược, chưa có các hoạt động xúc tiến, hỗ trợ doanh nghiệp hiện diện thương hiệu.

Mạng Truyền Thông Thương hiệu Việt-www.thuonghieuviet.com của công ty Cổ phần Truyền thông Thương hiệu Việt cũng có mô hình hoạt động tương tự như Thuonghieuviet.com.vn cũng bằng việc cung cấp các thông tin về thương hiệu của các doanh nghiệp và top các thương hiệu mạnh, các thông tin về cách tính cũng như tiêu chí bình chọn vẫn chưa được công bố rộng rãi.  Thuonghieuviet.com cũng đã cho ra đời sách vàng về thương hiệu Việt với 3 tập sách được phát hành nhằm  giới thiệu các thương hiệu Việt Nam.

logongon.jpgSAGA: Kể từ tháng 2/2007, www.saga.vn nhanh chóng vươn lên trở thành mạng xã hội Internet về kinh doanh đầu tiên tại Việt Nam. Hàng chục nghìn người sử dụng, khai thác hệ thống phần lớn là doanh nhân, cán bộ chuyên môn, sinh viên, giáo sư, chuyên gia… SAGA cung cấp một hệ thống thông tin và phương tiện làm việc-truyền thông có tính sẵn sàng cao. Đáng kể nhất là môi trường giao thương thân thiện, tập trung cao độ vào kiến thức và kỹ năng kinh doanh. Hệ thống tăng trưởng 1000% sau 6 tháng hoạt động. Kết nối cộng đồng kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ của hệ thống đang là tâm điểm chú ý của các doanh nghiệp trước nhu cầu quảng bá hình ảnh-thương hiệu. SAGA cũng có hiện diện rõ trong xã hội “thực” qua cuốn sách “Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải” được cộng đồng kinh doanh đánh giá cao gần đây, cùng với các hoạt động tư vấn và hỗ trợ khởi nghiệp-kinh doanh. Đây là  là hệ thống rất hứa hẹn cho tương lai xây dựng thương hiệu số của doanh nghiệp Việt Nam.

Ngoài ra còn nhiều website của các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân mở ra để quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp tại Việt Nam, các hình thức phổ biến là cung cấp vị trí đặt quảng cáo, bài viết PR, các dịch vụ gia tăng như SEO (Tối ưu tìm kiếm website), tăng thứ hạng trên bảng xếp hạng, gửi thư tiếp thị (Spam)… và sự bùng nổ này kéo theo nhiều phiền toái, tác động tiêu cực từ người sử dụng Internet.

Trào lưu web++ đã tạo ra môi trường trao đổi, cá nhân hóa nhưng lại tạo ra lỗ hổng lớn về thông tin như sự lộn xộn, thiếu định hướng. Chắc chắn  hệ thống  Web thế hệ mới  sẽ là một hệ thống bao gồm môi trường trao đổi, kết nối phục vụ nhu cầu thiết thực của cuộc sống(công việc, kinh doanh) hơn là giải trí, phục vụ sở thích cá nhân.   Khi đó xây dựng  thương hiệu trên hệ thống số sẽ cần các nền tảng, ý tưởng đột phá và một cộng đồng có văn hóa, uy tín. Cnet, ZdNet đã thành công khi tạo dựng hệ thống đánh giá về sản phẩm công nghệ có tham gia chuyên gia và ý kiến người dùng. Cốt lõi của thành công chính là việc định hướng người dùng ý thức, niềm tin vào thương hiệu của chính các website và sau là  những  thương hiệu có hiện diện và được cộng đồng đánh giá cao.

Xa hơn, rõ ràng không chỉ ở Việt Nam mà thế giới cũng đang cần hệ thống đánh giá, phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp trong một mạng xã hội trên internet. Theo  một số chuyên gia, hệ  thống hỗ trợ hiện diện thương hiệu đó phải có những điểm nhấn sau:

  • ý tưởng đột phá, tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp.
  • Có văn hóa trao đổi, thảo luận cũng như văn hóa kinh doanh nói chung.
  • Hệ thống chuẩn mực thông tin, kiểm duyệt, định hướng người dùng tốt, khả năng đánh giá, liên kết với các kênh truyền thông, cộng đồng cũng như xã hôi.
  • Đột phá về công nghệ, sử dụng những tiện ích gần gũi với người sử dụng.
  • Hạ tầng kỹ thuật, khoa học vững chắc, được phát triển bằng nội lực cốt lõi, khác biệt, không có tính chất sao chép và có khả năng tự hoàn thiện, phát triển thêm.
  • Đội ngũ chuyên gia, quản lý, điều hành chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn, nắm vững và liên tục sáng tạo để đưa ra những giải pháp marketing, làm thương hiệu số với trách nhiệm, hiệu quả cao nhất.
  • Cộng đồng kinh doanh có kiến thức, uy tín và tầm ảnh hưởng, là nền tảng tham khảo, hỗ trợ quá trình khởi nghiệp kinh doanh, phát triển kinh tế bền vững.

Theo Thomas Friedman, thế giới đang liên tục được “làm phẳng” nhờ vào sự phát triển của cộng nghệ và quá trình R&D liên tục của loài người. Liệu có giải pháp nào tại  Việt Nam  tạo ra “kháng sinh thương hiệu” cho các doanh nghiệp Việt Nam trước làn sóng bành trướng của những con khủng long OO ( Minh họa cho Google và Yahoo). Cho đến nay ngay cả trên thế giới cũng vẫn còn những khoảng trống quyền lực của một hệ thống hỗ trợ hiện diện thương hiệu có khả năng đáp ứng tối đa được nhu cầu của thị trường. Cơ hội còn nguyên cho Việt Nam!!

Nguyễn Trí Đạt-Bùi Quang Nam
© SAGA, 28/09/2007

=====
Bài viết www.saga.vn hợp tác với báo điện tử Dân trí, ngày 14/10/2007
=====

Một số loại hình thương mại điện tử

1. B2B ( Business To Business ) :

b2b.gif

Hình 1: Thương mại điện tử theo hinh thức B2B

Thương mại điện tử B2B được định nghĩa đơn giản là thương mại điện tử giữa các công ty. Đây là loại hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau. Khoảng 80% thương mại điện tử theo loại hình này và phần lớn các chuyên gia dự đoán rằng thương mại điện tử B2B sẽ tiếp tục phát triển nhanh hơn B2C. Thị trường B2B có hai thành phần chủ
yếu: hạ tầng ảo và thị trường ảo.

Hạ tầng ảo
là cấu trúc của B2B chủ yếu bao gồm những vấn đề sau:

  • Hậu cần – Vận tải, nhà kho và phân phối;
  • Cung cấp các dịch vụ ứng dụng – tiến hành, máy chủ và quản lý phần mềm trọn gói từ một trung tâm hỗ trợ (ví dụ Oracle và Linkshare);
  • Các nguồn chức năng từ bên ngoài trong chu trình thương mại điện tử như máy chủ trang web, bảo mật và giải pháp chăm sóc khách hàng;
  • Các phần mềm giải pháp đấu giá cho việc điều hành và duy trì các hình thức đấu giá trên Internet;
  • Phần mềm quản lý nội dung cho việc hỗ trợ quản lý và đưa ra nội dung trang Web
    cho phép thương mại dựa trên Web .

Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng ( Đặc biệt chu trình đặt hàng mua hàng), quản lý kho hàng (Chu trình quản lý đặt hàng gửi hàng-vận đơn), quản lý phân phối (đặc biệt trong việc chuyển gia các chứng từ gửi hàng) và quản lý thanh toán (ví dụ hệ thống thanh toán điện tử hay EPS)

Tại Việt Nam có một số nhà cung cấp B2B trong lĩnh vực IT “khá nổi tiếng” là FPT , CMC, Tinh Vân với hàng loạt các dự án cung cấp phần mềm , các trang web giá thành cao và chất lượng kém ngoài ra các đại gia này còn là nơi phân phối các phần mềm nhập ngoại mỗi lần nhìn thấy, dùng thử mà chỉ buồn.

Thị trường mạng được định nghĩa đơn giản là những trang web nơi mà người mua người bán trao đổi qua lại với nhau và thực hiện giao dịch.

Qua hai nội dung trên chúng ta có thể đưa ra vài nét tổng quan về các doanh nghiệp B2B:

  1. Là những nhà cung cấp hạ tầng trên mạng internet cho các doanh nghiệp khác như máy chủ, hệ điều hành, phần mềm ứng dụng;
  2. Là các doanh nghiệp chuyên cung cấp các giải pháp trên mạng internet như cung cấp máy chủ, hosting (Dữ liệu trên mạng), tên miền, các dịch vụ thiết kế, bảo trì, website;
  3. Là các doanh nghiệp cung cấp các phần mềm quản lý doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp, các phần mềm quản trị, các phần mềm ứng dụng khác cho doanh nghiệp;
  4. Các doanh nghiệp là trung gian thương mại điện tử trên mạng internet.

Tại Việt Nam các trang web về B2B rất ít xuất hiện hoặc nó bị gán nhầm cho cái tên B2B thậm chí nhiều người không hiểu B2B là gì, cứ thấy có doanh nghiệp với doanh nghiệp là gán cho chữ B2B. Chúng ta có thể ghé thăm các website được xếp hạng bên trong trang web của Bộ Thương mại Việt Nam để cùng suy nghĩ

www.ecvn.gov.vn
www.vnemart.com
www.gophatdat.com
www.vietoffer.com
www.thuonghieuviet.com

Nguồn : Website Bộ Thương Mại Việt Nam

2. B2C ( Business to Customers):

b2c.gif

Hình 2 : Thương mại điện tử B2C

Thương mại điện tử B2C hay là thương mại giữa các công ty và người tiêu dùng, liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực (hữu hình như là sách hoặc sản phẩm tiêu dùng) hoặc sản phẩm thông tin (hoặc hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá, như phần mềm, sách điện tử) và các hàng hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử.

Đơn giản hơn chúng ta có thể hiểu :Thương mại điện tử B2C là việc một doanh nghiệp dựa trên mạng internet để trao đổi các hang hóa dịch vụ do mình tạo ra hoặc do mình phân phối.

Các trang web khá thành công với hình thức này trên thế giới phải kể đến Amazon.com,
Drugstore.com, Beyond.com.

Tại Việt Nam hình thức buôn bán này đang rất “ảm đạm” vì nhiều lý do nhưng lý do chủ quan nhất là ý thức của các doanh nghiệp, họ không quan tâm, không để ý và tệ nhất là không chăm sóc nổi website cho chính doanh nghiệp mình. Tôi đã có lần trình bày ở bài viết về khởi nghiệp bằng thương mại điện tử của giới trẻ . Chi phí để lập và duy trì một website là rất ít và không tốn kém với một cá nhân chứ chưa kể đến một doanh nghiệp, doanh nghiệp Việt Nam nếu vẫn trì trệ trong việc cập nhật công nghệ thì sẽ sớm bị các doanh nghiệp trẻ, doanh nghiệp nước ngoài chiếm mất thị trường béo bở 80 triệu dân với 40% là giới trẻ.

Danh sách các website được đánh giá cao trong bảng xếp hạng của Bộ Thương mại Việt Nam.

www.megabuy.com
.vn

www.vdctravel.vnn.vn
www.vnet.com.vn
www.btsplaza.com.vn
www.tienphong-vdc.com.vn
http://vdcsieuthi.vnn.vn
www.golmart.com.vn
www.golbook.com
www.chibaoshop.com
www.sinhcafe.com.vn

Nguồn : Website Bộ Thương Mại Việt Nam

3. Thương mại điện tử C2C

c2c.gifcompany.gif

Hình 3 : Thương mại điện tử C2C

Thương mại điện tử khách hàng tới khách hàng C2C đơn giản là thương mại giữa các cá nhân và người tiêu dùng.

Loại hình thương mại điện tử này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và đấu giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các công ty/ doanh nghiệp có thể đấu thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau. Có lẽ đây là tiềm năng lớn nhất cho việc phát triển các thị trường mới.

Loại hình thương mại điện tử này tới theo ba dạng:
Đấu giá trên một trang web xác định

  • Hệ thống hai đầu P2P, Forum, IRC, các phần mềm nói chuyện qua mạng như Yahoo, Skype,Window Messenger,AOL …
  • Quảng cáo phân loại tại một cổng (rao vặt)
  • Giao dịch khách hàng tới doanh nghiệp C2B bao gồm đấu giá ngược, trongđó khách hàng là người điều khiển giao dịch.

Tại các trang web của nước ngoài chúng ta có thể nhận ra ngay Ebay là website đứng đầu danh sách các website C2C trên thế giới đây la một tượng đài về kinh doanh theo hình thức đấu giá mà các doanh nghiệp Việt Nam nào cũng muốn “trở thành”.

Tại Việt Nam thì chưa tất các các hinh thức này ở mọi loại dạng, đi đến đâu cũng thấy quảng cáo rao vặt, rao bán, rao mua, trao đổi…. Tôi có thể đưa ra các website do Bộ Thương mại xếp hạng để các bạn có cơ hội thăm quan.

www.chodientu.com
www.heya.com.vn
www.1001shoppings.com
www.saigondaugia.com
www.aha.com.vn

Nguồn : Website Bộ Thương Mại Việt Nam

Ngoài các trang web trên phải kể đến thị trường trên mạng Trái Tim Việt Nam. Nếu coi Ebay là tượng đài của C2C thế giới thì TTVN đáng coi là tượng đài C2C ở Việt Nam.

4. Thương mại điện tử B2G:
Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với chính phủ (B2G) được định nghĩa chung là thương mại giữa công ty và khối hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động khác liên quan tới chính phủ. Hình thái này của thương mại điện tử có hai đặc tính: thứ nhất, khu vực hành chính công có vai trò dẫn đầu trong việc.

Thiết lập thương mại điện tử, thứ hai, người ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn.

Các chính sách mua bán trên web tăng cường tính minh bạch của quá trình mua hàng (và giảm rủi ro của việc không đúng quy cách). Tuy nhiên, tới nay, kích cỡ của thị trường thương mại điện tử B2G như là một thành tố của của tổng thương mại điện tử thì không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát triển.

Còn một số loại hình thương mại điện tử khác nhưng do điều kiện và sự xuất hiện ở Việt Nam chưa cao nên tôi chưa dám đưa ra như:

  • Thương mại điện tử M-Commerece ( Buôn bán qua các thiết bị di động cầm tay)
  • Thương mại điện tử sử dụng tiền ảo ( VTC với Vcoin )Phụ lục : Giải thích các hinh minh họa
company.gif Companies -Doanh nghiệp
personal.gif Personal Users- Người tiêu dùng cá nhân
marketmaker.gif Market Maker(Market Place)-Thị trường

Đạt Eric

Thương mại điện tử là gì ?

Thời gian vừa qua , các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về thương mại điện tử. Nhưng việc hiểu thương mại điện tử là gì và sự khác biệt của thương mại điện tử so với thương mại truyền thống vẫn là một câu hỏi đối với nhiều người. Hôm nay tôi xin phép trích dẫn một số nguồn tài liệu đáng tin cậy để đưa ra những lý thuyết tổng quan nhất về thương mại điện tử

Đầu tiên chúng ta có thể tìm hiểu về thương mại truyền thống và sự khác biệt của thương mại điện tử và thương mại truyền thống

Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ giữa hai hay nhiều đối tác thông qua thị trường. Thị trường sẽ bao gồm hai đối tượng :

  • Người bán
  • Người mua

Hai đối tượng này sẽ gặp nhau tại một chỗ mà người Việt Nam gọi là cái chợ, tiếng anh thì gọi là Market, gặp nhau rồi thì thuận mua vừa bán và quan trọng là giao dịch phải bằng tiền hoặc những thứ gì đó có thể quy ra tiền.

Đó là thương mại truyền thống còn thương mại điện tử là :

  • Trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ ,xúc tiến thương mại, quảng cáo, khuyến mại
  • Việc trao đổi mua bán này nhất thiết phải trên một hạ tầng mạng truyền tải thông tin số hóa (Mạng internet,website,mạng điện thoại di động…)
  • Quá trình giao dịch không nhất thiết phải có hai bên tham gia trực tiếp nhưng có hóa đơn (hoặc bất cứ giấy tờ điện tử nào có thể chứng thực)
  • Việc thanh toán dựa vào các ứng dụng về số hóa: Thẻ tín dụng, thẻ trả sau,tài khoản ngân hàng online – E-banking….ở mố số nước phát triển thì việc thanh toán trong TMĐT vẫn chỉ là giao hàng và nhận tiền.
  • Việc chứng thực giao dịch : Các luật về thương mại điện tử quốc tế hoặc vùng lãnh thổ diễn ra giao dịch, chữ ký điện tử, mã số thẻ ….

computer-world.jpg Hình minh họa :
Thương mại điện tử mang cả thế giới vào trong máy vi tính

Thương mại điện tử hiện đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian vừa qua nhờ những điểm mạnh

1. Tốc độ giao dịch:Tốc độ mạng internet ngày càng được cải thiện, từ mạng internet dial up dùng qua điện thoại hiện nay đã là ADSL,Wimax . Đối với mạng điện thoại là công nghệ GMS(GPRS), CMMA và tương lai là 3G. Những thay đổi về công nghệ mạng đã tạo ra một làn sóng sử dụng mạng internet, điện thoại di động công nghệ cao. Những giao dịch qua mạng internet sẽ được tính băng giây chứ không phải là giờ hoặc ngày như thương mại truyền thống. Tính linh hoạt của thương mại điện tử đã được thể hiện mạnh và gần đây nhất là thời gian cuối tháng 12 năm 2006 với sự cố đứt cáp quang tại Đài Loan, hàng nghìn tên miền đẹp của Trung Quốc đã bị rơi vào tay các nhà đầu tư ở Mỹ, Châu Âu.

2. Chi phí giao dịch : Trước đây mỗi lần giao dịch trong thương mại truyền thống sẽ tốn kém về thời gian, tiền bạc để chờ đợi. Với thương mại điện tử việc truy cập website là hoàn toàn miễn phí, cùng một lúc bạn có thể truy cập nhiều gian hàng, nhiều nhà cung cấp, nhiều sản phẩm cùng loại để có thể so sánh, cân nhắc trước khi giao dịch. Chi phí giao dịch lớn nhất bạn phải trả là chi phí cho truy cập mạng internet của máy tính, điện thoại. So với các cước giao dịch khác như điện thoại, fax,chuyển phát nhanh, thư tín thì mạng internet vẫn rẻ hơn nhiều.

3. Tính linh hoạt của thanh toán: Bạn có thể sử dụng thẻ tín dụng của mình như Visa, Master Card…là có thể sử dụng để giao dịch trên mạng internet. Ngoài việc sử dụng thẻ tín dụng bạn có thể sử dụng các thẻ hoặc tài khoản trả sau đã đăng ký với các ngân hàng. Bên cạnh đó bạn có thể sử dụng tiền ảo ( tiền điện tử) để mua hàng hóa, dịch vụ.

Ở Việt Nam hiện nay Công ty Cổ phần VTC đã đưa ra một loại tiền ảo V-coin cho các game thủ chơi các trò chơi do công ty phát hành để mua các hàng hóa, dịch vụ .Ngoài ra các trò chơi khác như Võ Lâm Truyền Kỳ, MU… việc sử dụng tiền ảo để đổi lấy tiền thật hoặc đồ thật đã trở nên phổ biến từ nhiều năm nay.

4. Chi phí thành lập và duy trì website thương mại điện tử tương đối thấp so với việc mở showroom, cửa hàng thực tế. Một website thương mại điện tử có giá trị khoảng vài trăm đô và chi phí duy trì tiêu tốn khoảng vài trăm đô / năm. Một website không bao giờ có giới hạn về nội dung và số lượng sản phẩm đưa lên.

5. Khách hàng đến từ mọi địa điểm: Tính “phẳng” trong mạng internet đã xóa tan những khoảng cách không gian, thời gian thông thường của thương mại truyền thống. Chỉ cần một máy tính nối mạng internet là khách hàng có thể đi từ đầu đến cuối trái đất để tìm những hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu.


Với những ưu điểm trên nhiều người đã lầm tưởng về sự thành công của nó và đã phải gánh chịu những thất bại.được bạn nguyenchauha đã đăng tải.Đứng trên phương diện cá nhân tôi xin bổ sung một nguyên nhân có thể dẫn đến sự thất bại của thương mại điện tử mà đặc biệt tại Việt Nam: Giao dịch không an toàn

Nguyên nhân dẫn đến giao dịch không an toàn có thể xuất phát từ mọi lý do : Pháp luật, bảo mật,hacker…. không chỉ là chuyện ở nước ngoài mà ngay tại Việt Nam đã có rất nhiều. Ăn cắp thẻ tin dụng mua hàng hóa, rửa ti